Conversations - Evolution or Creation?


Sơ Lược về Lịch Sử Nhân Chứng Giê-hô-va

Le Thanh Y

          Lưu ư: Bài viết này c̣n đang trong gia đoạn hoàn thiện dần dần
                     (nhiều dẫn chiếu cần bổ sung, vài chi tiết cần hiệu chỉnh)
   

1. Sơ khởi: Charles Russel 1852-1916 2. Phát triển: Joseph Rutherford, Nathan Knorr 1916-
3. Những con số thú vị 4. Hai loại chứng nhân: 144.000 và số c̣n lại
5. Nhân chứng tại Việt nam  
  Banluan.com: Nhân chứng GHV trang chủ

            

Nhân Chứng Giê-hô-va (hay "Chứng Nhân Giê-hô-va" theo cách gọi của một số giáo hội cải chánh "Tin Lành") hay "Chứng Nhân Đức Gia-vê" theo cách gọi của "Niên Lịch Công Giáo Việt Nam năm 1964") là một giáo phái tín đồ đấng Christ tự nhận là do ông Charles Taze Russell thành lập, tuy rằng ông này không hề biết đến tên gọi Nhân Chứng Giê-hô-va này bao giờ.

Thực ra C.T. Russell vốn là một thương gia lớn lên trong gia đ́nh theo hệ phái cải chánh "Cơ Đốc Trưởng Lăo" (Presbyterian) nhưng bản thân khi lớn lên, ông lại chạy theo Giáo hội Công Hội (Congregational Church) v́ thích lập trường của nhóm này hơn. Sanh ra tại Allegheny ngày 16 tháng 02 năm 1852 (tức Pittsburg, tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ bây giờ), ngay từ năm 11 tuổi đă thường theo cha là ông Joseph L Russell đi bán dạo đây đó. Cuối cùng Charles đă tự ḿnh làm chủ một số hiệu buôn. Năm 1876 (theo chính Russell th́ là vào 1869), nhân một chuyến đi buôn, ngồi trên xe, t́nh cờ Charles gặp một người ngồi đọc tạp chí The Herald of The Morning của nhóm đạo Advent Christian Church thuộc hệ phái Phục Lâm Lần Thứ Hai(Second Day Adventist, xin đừng lầm với một nhánh tách ra từ Second Day Adventist là đạo Cơ Đốc Phục Lâm nghỉ ngày thứ Bảy Seventh Day Adventist, tuy giáo lư đôi bên cũng không khác xa nhau mấy); vốn đang dao động v́ đức tin ḿnh đang theo, Charles hỏi ḍ một đôi điều về đức tin người đó và một buổi tối năm 1869 đă làm thay đổi quan điểm của Charles khi ông t́m đến với buổi thờ phượng của nhóm này tổ chức tại tầng hầm của một căn chúng cư nằm trên đường Federal Street, chẳng xa mấy với cửa hiệu của Charles. Trưởng Lăo diễn giảng hôm ấy chính là người đọc báo trên xe mà Charles đă gặp trước đó: Jonas Wendell. Từ đó Charles say mê  thảo luận Kinh Thánh với ông này. Những giáo lư tiên tri về sự trở lại của đấng Christ  dựa vào niên đại học, những giải thích về sách tiên tri Đa-ni-ên ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của nhóm đạo Phục Lâm này (cánh tay mặt của nhóm này cũng hay được Charles Taze Russell nhắc đến và chịu ơn là George Stetson). Người ta chẳng lấy làm lạ khi Charles Taze Russell  đưa ra những năm tháng về sự "tái lâm" của đấng Christ y hệt của đạo Cơ Đốc Phục Lâm. Charles cùng với  Trưởng Lăo Jonas Wendell  bắt đầu thành lập những nhóm học Kinh Thánh tại gia suốt những năm từ 1870 đến 1875.Nhưng đó chỉ là giai đoạn ḍ t́m làm quen với Đức Chúa Trời và Lời Ngài mà thôi, chính Charles cũng phải thú nhận như vậy. Sau đó Charles Russell quen biết và học hỏi thêm trong tạp chí Bible Examiner của George Storrs, một bạn thân của Jonas Wendell, tạp chí này hiện nay vẫn c̣n xuất bản và bị Hội Tháp Canh gọi là của "những kẻ bội đạo" v́ tạp chí thường xuyên vạch những sai lầm của Nhân Chứng Giê-hô-va. Charles học hỏi giáo lư về linh hồn không bất diệt từ Storrs và c̣n tỏ ḷng biết ơn Storrs trên tạp chí Tháp Canh khi Storrs qua đời vào ngày 28 tháng 12 năm 1879. Chính Charles nh́n nhận đă chịu ảnh hưởnh của đạo Phục Lâm và của các diễn gỉa như George Storrs và George Stetson (Xin Xem thêm chi tiết tại đây). Trong giai đoạn này, như đă nói, Charles chịu ảnh hưởng sâu đậm về giáo lư của đạo Phục Lâm đặc biệt là về ngày tháng tiên tri sự "tái lâm" của đấng Christ qua tạp chí The Herald of The Morning do Nelson Barbour , một người thuyết giảng độc lập của giáo lư Phục Lâm làm chủ biên và John H Paton là phụ tá (sau này chính Charles cũng trở thành phụ tá chủ bút cho tạp chí Phục Lâm này). Năm 1877 Charles cùng Nelson Barbour cho xuất bản quyển sách Three World and the Harvest of this World, lần đầu tiên cổ súy việc đấng Christ sẽ trở lại trái đất một cách không thấy được vào năm 1914. Nhóm Phục Lâm tách ra từ Cơ Đốc Phục Lâm lần Thứ Hai này (Second Adventist) được cho là sở hữu chủ đầu tiên của bản Kinh Thánh Tân Ước Hy-Anh Emphatic Diaglott, trong đó chú thích cặn kẽ về động từ Hy-Lạp parousia là sự "hiện diện không thấy được"(tiếng Anh là Christ's Presence). Bản Kinh Thánh này do Benjamin Wilson dịch và Ben là một người vốn theo hệ phái cải chánh Christadelphian (nghĩa là Anh Em đấng Chrsit [ghép chữ Christ vào chữ Hy Lạp adelphian: nghĩa là "anh em"]) , giáo lư của nhóm Christadelphian và của  Nhân Chứng Giê-hô-va ngày nay thực ra là hai chị em song sanh (sau này Benjamin chia tay với John Thomas của đạo Christadelphian để hợp cùng với một vài người khác tách ra từ đạo Phục Lâm Second Adventist thành lập Đạo Đức Chúa Trời theo Đức Tin Abraham (Church of God of the Abrahamic Faith) mà đức tin cũng từa tựa như của Christadelphian (Xin xem thêm về hoạt động hiện nay của nhóm đạo này trong khung chữ màu vàng bên dưới). Vào tháng 12 năm 1878 v́ một bài báo của Barbour trên tờ Herald of The Morning hạ gía trị cái chết chuộc tội của đấng Christ, đă khiến Charles Russell và John Paton đành phải chia tay với Barbour và A.P. Adam. Sau nhiều lần tiên tri sai về ngày trở lại của đấng Christ của đạo Phục Lâm Second Adventist xin xem tại đây hay tại đây, nhiều thành viên của Second Adventist  ngả theo Christadelphian với bản dịch Kinh Thánh của Ben Wilson, một số thành lập các nhóm Cơ Đốc khác nhau, trong đó có đạo Cơ Đốc Phục Lâm Nghỉ ngày Thứ Bảy hiện nay. Chính vào giai đoạn hoang mang đức tin này, Charles kết hôn với Maria Frances Ackley; lấy lại thăng bằng và cho ấn hành 6000 ấn bản đầu tiên của tờ Tháp Canh, vào cùng năm đó: 1879. Tờ Tháp Canh đầu tiên mang tên Zion's Watchtower  and Herald of Christ's Presence v́ lúc bấy giờ đă có một tờ mang tên The Watchtower do một nhóm thoát thai từ Second Adventist xuất bản, chúng tôi không có số đầu tiên của báo ấy nhưng bạn có thể xem trang b́a của một số Watchtower do nhóm Cơ Đốc Second Adventist ấy xuất bản tại đây. Ngay cả đạo Mặc-môn (Mormon) cũng có tờ Tháp Canh, xin xem tại đây. Chính Hội Tháp Canh cũng đă nh́n nhận rằng tên gọi  Tháp Canh không phải là tên riêng chỉ dành cho Nhân Chứng Giê-hô-va (xem sách lịch sử Nhân Chứng Giê-hô-va  do chính Nhân Chứng Giê-hô-va viết là Jehovah's Witnesses--Proclaimers of God's Kingdom," gọi tắt là Proclaim-book in năm 1993, trang 48). Sau này ngay cả Paton cũng đă chia tay với Russell sau nhiều tranh căi cay đắng dầu trước đó chính Russell đă thúc giục Paton viết quyển Day Down để thay thế cho quyển Three Worlds của Barbour và giao cho A.D. Jones in. Vào năm 1881, trong số 5 cộng tác viên của Russell, chỉ c̣n một ḿnh lại A. D. Jones tiếp tục gắn bó với Russell. Theo sự khuyến khích của Russell, Jones lập ra tờ Zion's Day Star ở New York, nhưng chỉ trong ṿng năm đó, chính A.D. Jones cũng không thấy ḿnh đồng ư với giáo lư chuộc tội của Russell nữa và chia tay. Những năm sau đó, Charles Russell trở nên rất quen biết với dân chúng Hoa Kỳ dưới tên Mục Sư Russell (Pastor Russell), nhiều bài giảng xuất bản khắp nước, năm 1886, quyển đầu tiên của bộ sách 6 quyển Millenium Dawn hay c̣n gọi là Studies in the Scriptures ra đời  (không phải 7 quyển như Nhân Chứng Giê-hô-va đă có thời rêu rao. Quyển thứ 7 "The Finished Mystery" thực ra do Clayton J. Woodworth và George H. Fisher viết và góp nhặt các lời của Russel lại để in dưới lệnh kín của J F Rutherford, vị chủ tịch thứ nh́ của Hội Tháp Canh) . Trong thời gian này,với nguồn tài chánh dồi dào do thương vụ của Charles sanh lợi, Charles thành lập Hội Tháp Canh Zion's Watchtower Bible and Tract Society vào năm 1884 (tiền thân của Watchtower Bible and Tract Society of Pennsylvania hiện nay), một cơ sở phụ mang tên People's Pulpit Association cũng được thành h́nh vào năm 1909 (nay là Watchtower Bible and Tract Society of New York), và vào năm 1914, một cơ sở tại Anh quốc mang tên là International Bible Students Association được thành lập. Tuy thành công về tài chánh và danh tiếng, Charles chịu hai tai tiếng lớn vào các năm 1894 đến từ các đồng sự Học Viên Kinh Thánh (tên gọi thời ấy của Nhân Chứng Giê-hô-va) cho rằng ông quá độc tài, chuyên quyền và vụ thứ hai vào giữa các năm 1908-1909 về sự bất đồng ư kiến trong giáo lư mà ông tŕnh bày trong sách New Covenant. Một vụ khác không mấy vui là việc Mary Russell. vợ ông bất đồng về cách điều hành các cơ sở của Học Viên Kinh Thánh cũng như quyền được viết tự do trên tờ Tháp Canh của bà, bà và Charles chánh thức ra ṭa ly dị vào năm 1906, với nhiều đôi co qua lại đầy cay đắng tiếp theo năm đó. Bà Russell là người bênh vực nữ quyền và là mũi gai rất bén nhọn chỉ trích Charles Russell. Mục sư Russell cứ thế rao truyền thuyết lư của ḿnh và tự đánh bóng ḿnh bằng tiền bạc do kinh doanh mang lại. Năm 1912, Russell truy tố mục sư Báp-tít J.J. Ross tại Ontario ra ṭa về tội mạ lỵ sau khi J.J. Ross phát hành một tập sách nhỏ lật mặt nạ Russell. Bản thân Russel  vốn tự nhận ḿnh là Giáo Sỹ được bổ nhiệm và biết tiếng Hy-Lạp. Ra ṭa, có tuyên thệ là phải tŕnh bày sự thực, khi ṭa giơ bảng chữ cái Hy-Lạp ra cho Russell nhận diện, Russell c̣n không biết các chữ ấy là ǵ nữa. Cuối cùng gă lái buôn trúng thời này đành phải thú nhận là y chẳng biết tí ǵ về tiếng Hy-Lạp cả, cũng nhận rằng ḿnh cũng chẳng biết Hê-bơ-rơ và La-tinh nữa (Điều kỳ thú là chính chủ tịch Hội Tháp Canh sau này là Fred Franz, được xem là cột trụ về giáo lư của Hội Tháp Canh, khi ra ṭa để minh định về sức học của y, y cũng lúng túng không thể dịch được một câu Kinh Thánh từ tiếng Anh sang tiếng Hê-bơ-rơ (Xem phần đóng khung mà xanh lục bên dưới đây). Vào năm 1913, Russell lại gây thêm một lỗi lầm lớn khác là ông ta quảng cáo về loại "Lúa Ḿ Phép Lạ" của ḿnh ("Miracle Wheat"), bán gía cao gấp 4 lần lúa ḿ b́nh thường bán ngoài chợ. Tờ báo Brooklyn Daily Eagle vạch trần tṛ gian xảo này và bị Russell đưa ra ṭa. Khi chánh quyền đưa lúa ḿ của Russell ra thử, chỉ thấy rằng lúa ḿ của Russell c̣n kém phẩm chất hơn cả mức quy định. Tờ báo thắng kiện.(theo Anthony Hoekema trong sách The Four Major Cults, trang 227 ) Tṛ bịp bợm này lại càng làm cho người ta thấy rơ ngay từ đầu, Hội Tháp Canh đă chỉ là một công cụ sanh lợi cho một nhóm người ăn trên ngồi chốc không hơn không kém. Thế nên chẳng lấy ǵ đáng ngạc nhiên khi sau này vào những năm 1990 đến hiện nay càng ngày càng có thêm nhiều bằng chứng minh định rơ những tṛ làm ăn sanh lợi lem nhem của "tổ chức Đức Chúa Trời " (như Hội Tháp Canh tự nhận), nào là có cổ phần trong Công Ty sản xuất thuốc lá Philip Morris, cổ phần trong động cơ Rand Cam engine bán cho Bộ quốc Pḥng, Hải quân Hoa Kỳ, công ty cờ bạc, công ty hầm mỏ (xin xem chi tiết ở đây)

Sau khi Charles Taze Russell qua đời vào năm 1916, trái với ư nguyện của Charles, nhóm Joseph F. Rutherford đă bất ngờ sửa bản di chúc của C.T. Russell và tiếm quyền thay thế các người được chính C.T. Russell chọn lựa như Alfred I. Ritchie, Robert H. Hirsh, Issac F. Hoskins và J Dennis Wright. Lẽ ra bốn người này được Russell chọn lựa vào ban lănh đạo của Hội Tháp Canh Trung Ương cùng với Paul S.L. Johnson (lúc Russell qua đời th́ Johnson là người được Russell ủy nhiệm sang trông coi Văn Pḥng của International Bible Students Association (IBSA) tại London, Anh quốc nhưng khi Johnson sang Anh quốc th́ Rutherford ở lại Hoa Kỳ giải nhiệm 4 người nói trên đồng thời triệu hồi Johnson về cách chức). Sau này phe Rutherford có cho giải thích trong quyển Niên Giám Nhân Chứng Giê-hô-va năm 1975 (Niên Giám đặc biệt tŕnh bày lịch sử Nhân Chứng Giê-hô-va và Hội Tháp Canh tại Hoa Kỳ) như sau:

            "C.T. Russell đă chọn mấy kẻ ấy vào ban giám đốc , nhưng hiến chương của Hội đ̣i hỏi là ban giám đốc điều hành phải do sự bầu cử chọn lựa của những cổ đng [người có phần hùn]. Rutherford đă báo cho Russell biết là mấy kẻ đó c̣n phải được cuộc bầu bán kế đó đồng ư chấp thuận đă, nhưng Russell đă không bao giờ làm bước ấy. Do đó chỉ có những người nào được bầu chọn trong buổi hội nghị thường niên tại Pittsburgh th́ mới được chọn vào ban giám đốc thôi. Bốn người được chọn không phải là thành viên hợp lệ của ban giám đốc, Rutherford biết rơ điều này trong suốt thời gian rắc rối  này, nhưng không nói ra, chỉ hy vọng là bốn người ấy tự ư giải nhiệm. Tuy nhiên thái độ của họ cho thấy họ không đáng tư cách là thành viên của ban giám đốc. Vậy th́ hợp lẽ là Rutherford phải ra tay giải nhiệm họ và chọn bốn thành viên mới vào ban giám đốc, mà các thành viên mới này sẽ được công nhận bằng bầu cử trong cuộc họp thường niên vào năm sau, tức đầu năm 1918" (Yearbook of Jehovah's Witnesses 1975, trang 91-92)

Như thế cho thấy rơ Rutherford đă cố t́nh coi thường sự chọn lựa của Russell, mà đưa người do ḿnh chọn lựa vào ban giám đốc. Russell làm sao c̣n có cơ hội tổ chức cuộc họp thường niên kế đó hầu xác nhận sự chọn lựa các người mà ông ta đă chọn, bởi ông ta qua đời. Thay v́ chính ḿnh tổ chức cuộc họp thường niên và bầu chọn công nhận sự chọn lựa của Russell th́ Rutherford lại giải nhiệm họ và lập người của ḿnh lên. Đến năm 1931, muốn dứt khoát bỏ hẳn quá khứ "Học Viên Kinh Thánh," Rutherford đă cho đổi tên của đạo thành "Nhân Chứng Giê-hô-va".(Có một hồi giữa các năm từ 1964 đến 1970, Nhân Chứng Giê-hô-va đă cho in trong Tháp Canh nói về tên của họ là "Tín đồ đấng Christ Nhân Chứng Giê-hô-va (Jehovah's Christian Witnesses", nhưng sau đă phải từ bỏ v́ có một nhóm đạo nhỏ đă đăng kư chánh thức với nhà cầm quyền Hoa Kỳ trong tên này, Nhân Chứng Giê-hô-va không thể xoán đoạt tên của họ). Từ khi chiếm lấy  Hội Tháp Canh của các Học Viên Kinh Thánh (hiện nay nhiều nhóm Học Viên Kinh Thánh của Russell vẫn c̣n hoạt động), Rutherford đă dẫn dắt Hội Tháp Canh  đi theo hướng kinh doanh của Rutherford và càng được hưng thạnh hơn sau đó dưới thời của Nathan.H. Knorr, một người có đầu óc hết sức kinh doanh và thực tiễn. Mục tiêu là càng ngày càng phải thâu nạp thêm thành viên mới th́ công việc xuất bản mới mang lại lợi nhuận nhiều hơn. Hăy tưởng tượng có một sách báo nào mà mới ra đời đă có ngay được một thị trường ép buộc 2,3 triệu người mua hay không ? Thế đấy, nhiều Nhân Chứng Giê-hô-va đă nhắm mắt trả tiền các sách báo ấy để rồi có khi chẳng bao giớ rớ tới (v́ bận bịu suốt ngày đêm với việc đi bán dạo không công cho Hội th́ làm sao c̣n rảnh rang đủ thời giờ dành cho việc đọc, tất cả chỉ c̣n trông vào các cuộc học hỏi tại Pḥng Nước Trời; đến đó nghe mấy người soạn sẵn nói sao th́ nghe vậy, không hề có ư kiến phản đối hay bất đồng, rất một chiều "ngu dân dễ trị"). Việc lâu lâu đưa ra một ngày tháng giựt gân "tận thế" hay "ánh sáng mới" này nọ chẳng qua chỉ là sách lược cần có để thu hút mỗi khi thấy "thị trường" có hơi tụt dốc chán nản. Khuynh hướng ấy cứ tiếp tục cho đến ngày nay, có thêm một chút đánh bóng cho Nathan Knorr về sự tiên tri của ông ta liên quan đến "con thú" Hội Quốc Liên sẽ ngóc đầu sống lại bằng vai tṛ của Liên Hiệp Quốc và bằng việc đầy thiêng liêng tính mà ông ta đă thực hiện được: Trường Học Thánh Chức Thần Quyền và trường Giáo Sỹ Ga-la-át để che lấp bớt cái vẻ kinh doanh thực tiễn của N.H. Knorr.  

1. Sơ khởi: Charles Russel 1852-1916 2. Phát triển: Joseph Rutherford, Nathan Knorr 1916-
3. Những con số thú vị 4. Hai loại chứng nhân: 144.000 và số c̣n lại
5. Nhân chứng tại Việt nam  
  Banluan.com: Nhân chứng GHV trang chủ

Theo Báo Cáo thường niên của Nhân Chứng Giê-hô-va (bản mới nhứt đăng trên tạp chí Tháp Canh tháng 2 th́ trên toàn thế giới con số trung b́nh Nhân Chứng Giê-hô-va đă báp têm đi rao giảng là trên 6 triệu (6.308.341 người) so với con số trung b́nh năm ngoái (2003) là 6.184.046 người. Tổng số người mới báp-têm thêm vào trong năm 2004 là 262.416 người. Số quốc gia mà Nhân Chứng Giê-hô-va đang thực hiện việc rao giảng là 235 quốc gia + ḥn đảo.

Điều lư thú là nếu người ta lấy con số trung b́nh Nhân Chứng Giê-hô-va của năm 2003 cộng thêm với số người báp têm gia nhập trong năm 2004 (6.184.046 + 262.416) th́ sẽ ra = 6.446.462 người Nhân Chứng Giê-hô-va trong năm 2004. Nhưng thực tế lại không đạt đến con số ấy mà chỉ c̣n có 6.308.341, nghĩa là thiếu mất 138.121 người. Cứ theo Hội Tháp Canh (đăng trên tạp chí Tháp Canh số ra ngày 15-07-1999, trang 9 đọan bài số 2) th́ con số tử vong trong Nhân Chứng Giê-hô-va là 1%, nghĩa là với 6 triệu tín đồ th́ hàng năm con số tử vong sẽ gây giảm cỡ 63.000 người. Như vậy vẫn c̣n thiếu 75.000 người bỏ đi đâu mất (bị khai trừ, tự ư ly khai, bội đạo..). So với 262.416 người mới làm báp-têm th́ con số bỏ đi mất này chiêm gần một phần ba, nghĩa là hiện nay mỗi khi Hội Tháp Canh thâu nạp thêm được 3 người th́ có một người bỏ đạo. Hăy lấy con số báo cáo tại Canada làm tiêu biểu.

Tại Canada, số trung b́nh Nhân Chứng Giê-hô-va của năm 2003 là 109.409 người, lấy số này cộng với số người mới làm báp têm gia nhập năm 2004 (2.210 người mới) th́ con số trung b́nh Nhân Chứng Giê-hô-va cho Canada trong năm 2004 phải là 111.619 người. Nhưng trên báo cáo thực tế, người ta lại ghi nhận con số Nhân Chứng Giê-hô-va cho năm 2004 là 108.012 (c̣n thấp hơn năm 2003 nữa người ơi !) Thế tức là trong năm 2004, nỗ lực của Nhân Chứng Giê-hô-va tại Canada t́m kiếm thêm được về cho Hội 2210 người con chiên mới th́ có 3607 con chiên cũ bỏ ra đi không lời từ gĩa ! Hoặc lấy con số tại Hoa Kỳ là đầu năo của Nhân Chứng Giê-hô-va, nơi có đông Nhân Chứng Giê-hô-va nhứt thế giới, số Nhân Chứng trung b́nh năm 2003 là 988.236 người, báp-têm cho 30.576 người mới thêm vào hội thánh; vậy mà số Nhân Chứng Giê-hô-va trong năm 2004 lẽ ra phải là 1.018.812 người, nhưng thực tế báo cáo cho thấy chỉ c̣n 992.809 người, biến mất 26.003 người. Thế là báp-têm cho 30.576 người mới th́ có 26.000 người bỏ đi. Thế nhưng báo cáo về Canada và Hoa Kỳ lại ghi là 0% tăng, nghĩa là không tăng không giảm. Báo cáo kiểu ỡm ờ !

Điều lư thú thứ hai là theo giáo lư của Nhân Chứng Giê-hô-va th́ họ có hai lớp người được hưởng ơn phước của Chúa khác nhau (hai loại phần thưởng về sự sống khác nhau, căn cứ theo Phúc Âm Giăng 10:16): Có một nhóm nhỏ được đặc biệt chọn trong toàn thế gian từ thế kỷ thứ Nhứt đến ngày nay (từ thời các sứ đồ đi theo Giê-su) sẽ được hưởng sự sống đời đời  vui hưởng việc giáp mặt với Chúa ở trên trời. C̣n hết thảy những người công chánh khác dù đạo đức tới đâu cũng chỉ được sống ở trên đất mà thôi (tổ phụ Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, cũng như nhà tiên tri Giăng Báp-tít cùng hầu như hết thảy chúng ta ngày nay) tất cả chỉ được sống hoặc sống lại để vui hưởng sự sống đời đời ở trên trái đất mà thôi. Vậy con số người có ơn đặc biệt được để sống ở trên trời này là bao nhiêu người ? Hội Tháp Canh căn cứ vào câu Kinh Thánh Khải Huyền chương 7:4-9 và chương 14:3,4 để nói rằng con số người đặc ân ấy chỉ là 144.000 người mà thôi và số người ấy được chọn trước nhứt gồm các sứ đồ thời xưa, sau đó trải dài suốt 20 thế kỷ vừa qua cũng chỉ vỏn vẹn được có 144.00 người tổng cộng mà thôi. Vào năm 1931, Hội Tháp Canh chế ra cái gọi là "lớp người sống trên đất bắt đầu xuất hiện" để bảo rằng từ 1931 trở đi sẽ không c̣n ai được chọn thêm vào con số 144.000 người đặc ân lên trời nữa v́ con số ấy đă chọn đủ, và hàng năm, con số người " được xức dầu c̣n sót lại trên đất ấy" phải ngày một giảm dần v́ chết đi để lên thẳng trên trời và sẽ không có ai mới ăn bánh cùng uống chén rượu giao ước mà Giê-su đă thực hiện trong buổi Tiệc Ly (Tiệc Thánh) nữa. Nếu một ai mới lần đầu tiên có ăm bánh và uống chén rượu nho tượng trưng nó trên th́ người đó là người "được xức dầu" mà Giê-hô-va mới chọn để thay thế một người vốn được chọn nào đó nhưng nay không c̣n hội đủ tiêu chuẩn để được chọn lên trên trời nữa. Cứ như thế th́ con số báo cáo về những người sẽ ăn bánh và uống chén rượu giao ước sẽ là một con số nhứt định và chỉ giảm dần chớ không có tăng trội (v́ số người được chọn sẽ chết lần hồi). Thế nhưng trong báo cáo năm nay (2004), con số này là 8570 (so với 8565 của năm 2003), tức là bỗng dưng trội trội thêm lên  5 người nữa. Không hiểu Hội Tháp Canh đang tính ǵ và phải giải quyết chuyện giáo lư tréo cẳng ngỗng với thực tế này thế nào đây.

 

1. Sơ khởi: Charles Russel 1852-1916 2. Phát triển: Joseph Rutherford, Nathan Knorr 1916-
3. Những con số thú vị 4. Hai loại chứng nhân: 144.000 và số c̣n lại
5. Nhân chứng tại Việt nam  
  Banluan.com: Nhân chứng GHV trang chủ

Nhân Chứng Giê-hô-va tại Việt Nam:

Người ta có rất ít thông tin về giai đoạn ban đầu của Nhân Chứng Giê-hô-va xuất hiện tại Việt Nam. Theo sự ghi chép th́ vào khoảng năm 1936, một giáo sỹ truyền giáo của đạo Nhân Chứng Giê-hô-va là anh Frank Rice dưới sự chỉ đạo của Chi Nhánh Úc đă đến thương cảng Hải Pḥng dự tính bắt đầu truyền giảng tại đó lần đầu tiên nhưng không thành công. Chỉ một năm sau th́ bỏ Hải Pḥng về Hà Nội, nhưng cũng không ai chú ư. Năm 1943 th́ anh rời Việt Nam theo lệnh cấm của người Nhựt lúc đó đang nắm quyền tại miền Bắc Việt. Có một vài người công bố làm việc với tư cách cá nhân trong các năm 1953 đến 1954 và gởi báo cáo giờ công tác của họ về Văn Pḥng Chi Nhánh Pháp.

Người ta được biết Nhân Chứng Giê-hô-va người Việt đầu tiên được làm báp têm tại Saigon vào năm 1959 là một phụ nữ, chính là chị Ḥe, hiện cư ngụ ở Hoa Kỳ (2004). Người nam đầu tiên trở thành trưởng lăo cũng tại Saigon là anh V.v. Phổ. Trong giai đoạn từ cuối những năm 1950 sang thập niên 60 (đặc biệt từ năm 1959, khi trường đào tạo giáo sỹ Gilead được thành lập tại Hoa Kỳ từ năm 1943 đă có khóa học đầu tiên gọi là Trường Học Thánh Chức Nước Trời ), nhiều giáo sỹ của Nhân Chứng Giê-hô-va đă thay phiên nhau đến Saigon để cố thành lập một hội thánh tại đây. Tháng 4 năm 1956, Chủ Tịch Hội Tháp Canh  Nathan Knorr đến viếng thăm (lần thứ ba) Chi Nhánh Thái Lan và có yêu cầu anh Joseph E. (quen được gọi là Bob) Babinski lúc ấy là trưởng văn pḥng chi nhánh Thái t́m cách liên lạc với chánh quyền Saigon (vốn mới trở thành Việt Nam Cộng Ḥa năm 1955) để xin phép cho các giáo sỹ của Hội Tháp Canh được bắt đầu công việc rao giảng tại Saigon. Tháng 7 năm 1956, Bob Babinski đến Saigon và ngay cuối tháng ấy, ngày 27 tháng 6 năm 1956, lần đầu tiên các giáo sỹ đào tạo ở Ga-la-át đến Saigon và bắt đầu công việc dưới sự điều hành của Chi Nhánh Thái. Có một Nhân Chứng Giê-hô-va rất tích cực trong việc này là anh  Panayotis Kokkinidis một người gốc Hy-Lạp (tốt nghiệp trường Giáo Sỹ của Nhân Chứng Giê-hô-va Ga-la-át năm 1964). Anh ta vốn được Hội cử đến Cam-Bốt, nhưng bị chánh quyền Nam Vang khước từ, không cho nhập cảnh. Vốn nhiệt tâm anh xin sang Saigon vào đầu năm 1965, hầu như tất cả các liên lạc với Trụ Sở Trung Ương của Hội Tháp Canh ở New York trong giai đoạn này đều do anh Kokkinidis này thực hiện. Những quyển sách mỏng (booklets) như Tin Mừng này về Nước Trời (This Good News of The Kingdom, tiếng Việt in năm 1960), "Này ta làm Mới Lại Hết Thảy Muôn Vật" (Look I am Making All Things New, tiếng Việt in năm 1959) bắt đầu được thuê dịch và in. Quyển sách mỏng Sống Trong Hy Vọng về Một Trật Tự Mới Công B́nh (Living in Hope of A Righteousness New World Order) là sách mỏng đầu tiên do một chị người Việt dịch và ấn bản đầu tiên in tại Việt Nam với các bản kẽm do Hội Tháp Canh Hoa Kỳ cung cấp (các quyển trước đó với các bản kẽm làm tại Việt Nam in rất xấu. Ngay bản in đầu của sách này cũng là bản in tại Việt Nam rất lem luốc). Năm 1966, quyển Những Điều Mà Đức Chúa Trời Không Thể Nói Dối (Things in Which..for God Are Not Impossible to Lie) bắt đầu được dịch từng phần dưới sự coi sóc của anh Kokkinidis (đă in được 3 chương thành các sách mỏng booklets)  Những năm từ 1961-1965 đánh dấu nhiều bước tiến triển khả quan trong công việc đào tạo môn đồ trong một lănh địa mà phần đông dân chúng theo Phật giáo, các giáo sỹ và người tiên phong (thuở đó c̣n gọi là "người khai thác") phần lớn đều từ Văn Pḥng Chi Nhánh Hội Tháp Canh tại Bangkok Thái Lan đến trợ giúp (lúc ấy Paul Engler, một người Đức, khóa 20 Ga-la-át làm trưởng văn pḥng Thái Lan) và do anh George Crawford của Chi Nhánh Thái Lan theo dơi. Năm 1965 anh Robert Savage trở thành Giám Thị Hội Thánh đầu tiên tại Saigon (thời đó chưa có Hội Đồng trưởng lăo, chỉ một trưởng lăo coi sóc cả hội thánh). Cuối năm 1966 báo cáo cho thấy có 3 người Việt đă chịu báp-têm trong tổng số 19 người đi công bố, trong đó tính cả 8 người giáo sỹ. Thế rồi quyển Lẽ Thật Duy Nhứt Dẫn Đến Sự Sống Đời Đời đă bắt đầu được anh trưởng lăo H.Đ Dinh dịch sang tiếng Việt (in b́a mỏng tại Saigon năm 1970 và b́a cứng tại Brooklyn năm 1971). Sang thập niên 1970, nhiều trưởng lăo trẻ mới xuất hiện và đẩy mạnh công việc rao giảng lan ra đến các đô thị xa xôi khác (những chuyến khai thác đặc biệt tại khu vực mới: Đà Lạt, Biên Ḥa, Cần Thơ và Nha Trang Quảng Đức đều không thành công cho lắm, riêng tại Nha Trang tuy có một gia đ́nh học hỏi Kinh Thánh và một trong số họ đă chịu phép báp-têm, song v́ xa cách cũng mai một dần). Các trưởng lăo như P.H.Thái và P H Trí đă rất xuất sắc đẩy mạnh công việc làm chứng và củng cố hội thánh tại Saigon. Anh Giám Thị Vùng (Zone Overseer) thuộc Chi Nhánh Phi-Luật-Tân là Denton Hopkinson đă bật đèn xanh cho các người Tiên Phong đặc biệt của Phi đến việt Nam trợ giúp. Năm 1971 Đại Hội (thời đó gọi là "Hội Nghị") Địa Hạt đầu tiên của Nhân Chứng Giê-hô-va Việt Nam được tổ chức tại rạp hát Thống Nhất Saigon khoảng 200 người dự. Tạp Chí Tháp Canh xưa nay vẫn được học trong tiếng Pháp th́ năm 1970 cũng đă được phép của Hội Tháp Canh Trung Ương New York xuất bản bằng tiếng Việt và in tại Saigon năm 1971. Vào năm 1972, số người công bố theo báo cáo là 81 người (thời đó gọi là "người tuyên bố"). Năm 1973, Chị T., Nhân Chứng Giê-hô-va người Việt đầu tiên tư tử chết (chị thuộc một gia đ́nh danh tiếng và giàu có, phần đông mọi người trong gia đ́nh đều là Nhân Chứng Giê-hô-va kể cả người mẹ). Năm 1973 cũng là một năm đáng nhớ, với sự hiện diện của Chủ Tịch Văn Pḥng Trung Ương là Nathan H. Knorr tại Saigon, Hội Tháp Canh Trung Ương New York cho phép thành lập Văn Pḥng Chi Nhánh Hội Tháp Canh tại Việt Nam, Trụ Sở đặt tại số 90 E đường Lư Trần Quán, Tân Định Saigon 1 (với địa chỉ liên lạc là "Hộp thơ 764 Saigon, Việt Nam). Sau năm 1975, Văn Pḥng này đóng cửa vĩnh viễn tận đến nay và hộp thư cũng không c̣n hoạt động, Nhóm "Hội Thánh đấng Christ" lấy mất hộp thư này). Năm 1972 quyển sách Kinh Thánh  có Thật Sự là Lời Đức Chúa Trời Không ? (Is The Bible Really God's Word ?) được in. Cũng trong năm này, quyển Sách Tổ Chức để Rao Giảng và Đào Tạo Môn Đồ (quen gọi là "sách Tổ Chức" Organized-book ) và tờ Thánh Chức về Nước Trời (Kingdom Ministry) được phép in dưới dạng roneo/mimeograph. Và quyển Ḥa B́nh Và An Ninh Thật Sự Từ Đâu Đến cũng được dịch sang tiếng Việt (Peace and Security--From What Source? --tiếng Việt chưa in, đă có dạng bản thảo in roneo/mimeograph). Hội Nghị "Đức Chúa Trời Chiến Thắng" tổ chức tại Vườn Địa Đàng, nằm bên trong Thảo Cầm Viên ["Sở Thú"] Saigon. Theo báo cáo  tháng 10 năm 1973 cho thấy con số người công bố trung b́nh đă lên đến 88 người, số giờ công tác trung b́nh là 12,1 giờ ; điều khiển trung b́nh 154 cuộc học hỏi Kinh Thánh cho 129 người học viên Kinh Thánh mỗi tháng, phát hành được 451 sách b́a cứng, 369 sách mỏng, 1269 tạp chí Tháp Canh  và nhận được 192 phiếu đặt mua báo dài hạn, thực hiện 1348 cuộc viếng thăm lại (return visits).Năm 1974, . Hội Nghị Địa Hạt cuối cùng được tổ chức tại Hội Liên Trường Saigon tháng 12 năm 1974. Vào năm 1974, Văn Pḥng Chi Nhánh Việt Nam tại Saigon báo cáo có 3 hội thánh: Saigon Đông, Saigon Tây (hay c̣n gọi là hội thánh Phú Nhuận cùng chia pḥng nhóm họp với hội thánh Saigon Động ở tầng trệt của số 90 E Lư Trần Quán) và hội thánh Chợ Lớn (trụ sở đặt trên đường Nguyễn Duy Dương,  Chợ Lớn), tổng số người công bố của 3 hội thánh trung b́nh là 102 người, điều khiển trung b́nh  129 cuộc học hỏi Kinh Thánh, thực hiện trung b́nh 1598 cuộc viếng thăm lại và dành khoảng 4000 giờ cho việc rao giảng  mỗi tháng. cuối năm 1974 và đầu năm 1975, con số người công bố trung b́nh là 106 (với kỷ lục là 113 người), có 17 người báp têm trong năm, tống cộng trọn năm dành 49.175 giờ rao giảng và điều khiển17.569 cuộc học hỏi Kinh Thánh. Có 116 người dự Lễ Tiệc Thánh năm 1974. Cũng có 10 người Tiên Phong Đặc Biệt (thời đó gọi là "người khai thác đặc biệt"): 4 tại hội thánh Chợ Lớn, 4 tại hội thánh Saigon Tây (Phú Nhuận) và 2 tại Saigon Đông. Nếu cộng thêm 18 giáo sĩ ( đa số đến từ Phi-Luật-Tân, Hoa Kỳ, Canada, Đức) th́ tổng cộng có 28 người Tiên Phong Đặc Biệt.
 

Sau năm 1975, tất cả mọi công việc rao giảng, nhóm họp, điều khiển các cuộc học hỏi Kinh Thánh đều được thực hiện kín đáo tại các nơi công cộng (công viên, nghĩa trang, chợ búa, nhà riêng v.v...) có một vài cuộc Đại Hội được tổ chức (thời đó gọi là "hội nghị"). Tuy nhiên công việc không tiến triển khả quan mấy v́ áp lực của nhà cầm quyền mới. Có một số gia tăng khiêm tốn về nhân sự, bành trướng việc rao giảng sang các địa phương khác như: B́nh Giă, Long Khánh (Xuân Trường, Ông Đồn, Vơ Đắc, Trà Tân, Đức Hiệp), Sông Buông (Hố Nai),Minh Hải (Cà Mau),Di-linh, Pleiku, Cần Thơ. Trong giai đoạn này cũng có nhiều sách được dịch sang Việt ngữ (Sách Kể Chuyện Kinh Thánh [My Book of Bible Stories], Xây Dựng Một Đời Sống Gia Đ́nh Hạnh Phúc [Making Your Family Life Happy], Đời Sống Này Chỉ Có Thế Thôi Sao? [Is This Life All There Is?], Sách Tiến Hóa [Evolution-book], Sách Sáng Tạo [Creation-book] v.v... Song song với hoạt động cầm hơi trong nước, số người Việt di-tản, vượt biên và đoàn tụ gia-đ́nh có mặt trên hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng đă dần dà gầy dựng nên một số hội thánh tiếng Việt tại Hoa Kỳ (California,  Texas, New York, Virginia), Canada ( Hamilton, Toronto..), Úc (Sydney,Perth,Brisbane, Melbourne), Pháp,Đức,Hà Lan. Bởi đó công việc truyền bá về Nước Trời cũng dành được sự quan tâm của Trụ Sở Trung Ương Hội Tháp Canh tại New York. Năm 1978, sau một cuộc điện đàm giữa anh Karl Adam và anh P.H.T. tại Hoa Kỳ, tạp chí Tháp Canh tiếng Việt bắt đầu được xuất bản trở lại ở Hoa Kỳ; ban đầu ra 2 tháng một số, nhưng đến năm 1980 th́ đă trở thành nguyệt san, tháng 6 năm 1992 mỗi tháng ra 2 số (thành bán nguyệt san, tuy nhiên nội dung các bài trong đó vẫn c̣n ra sau tạp chí tiếng Anh 3 tháng) và đến tháng 7 năm 1993 đă in song hành cùng lúc với tạp chí trong tiếng Anh. Năm 1992 là năm đánh dấu việc thành lập Ban Dịch Thuật tiếng Việt chánh thức tại Nhà Bê-ten Canada với con số  là 7 người từ Pháp, Canada và Hoa Kỳ đến do anh Walter Trubyk chịu trách nhiệm. Cũng trong năm 1992 đánh dấu một cọc mốc quan trọng trong sanh hoạt của Nhân Chứng Giê-hô-va c̣n trong nước: Lần đầu tiên một Đại Hội Địa Hạt được tổ chức tại Saigon ngày 02 tháng 02 năm 1992 và kéo dài trong 3 ngày với chủ đề là "Làm Việc Khó Nhọc để Phụng Sự Đức Giê-hô-va" do Giám Thị Ṿng Quanh là anh Cao Phong chủ tọa khai mạc (tên cố t́nh được Việt-hoá để yêu thương,muốn giữ ǵn cho hoạt động của các Anh Chị); có 208 người tham dự và 17 người mới chịu phép báp-têm (1 trong số 17 này là một người từ Hà Nội, Bắc Việt đến) số hội thánh vào năm ấy là 2 hội thánh. Kế đó chỉ trong ṿng nửa năm, cũng ở Saigon, ngày 16 tháng 8 có thêm 6 người mới làm báp-têm tại một Đại Hội nhỏ hơn  tuy cũng có anh Giám Thị Ṿng Quanh tham dự. Từ năm 1997, tại Ban Dịch Thuật tiếng Việt ở Canada có sự thay đổi về nhân sự hầu như toàn bộ, công việc biên dịch cũng phát triển mạnh hơn với nhiều ấn phẩm ra đời và đến năm 2000 th́ gần như các sách xuất bản trong tiếng Việt đă xuất hiện song hành với ấn bản chánh trong tiếng Anh.

Trong tất cả các giai-đoạn trên, chúng tôi chỉ đế cập đến "mặt nổi" của Hội Tháp Canh tại Việt Nam và  cố t́nh không nói đến sự chi phối có tánh cách từ bên trong của một Văn Pḥng Chi Nhánh khác của Hội Tháp Canh. Chi Nhánh này đă âm thầm theo sự chỉ đạo của Trung Ương Brooklyn ủy nhiệm mà chỉ định các tôi tớ điều khiển từ bên trong; chúng tôi xin tạm Việt-hóa tên của họ để những người biết chuyện có thể hiểu. Trong giai-đoạn từ 1960 đến 1975: anh Tạ Kư. Trong giai đoạn từ 1975-1992: Anh Sơn Niên (có vợ là Gloria). Trong giai đoạn 1992 đến những năm 2000: Anh Sơn Lâm (có vợ là chị Thúy Vi). Chúng tôi Việt hóa v́ yêu thương các bạn bè, nhưng chi tiết lịch sử này không thể bỏ sót, bạn hiểu cho. Theo báo cáo mới nhứt của Ủy Ban Quốc Hội Hoa Kỳ về vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam năm 2004 (International Religious Freedom Report by U.S. Dept. of State, có thể xem nguyên văn tiếng Anh tại đây) th́ con số các hội thánh tại nội địa Việt Nam là "10 hội thánh không chánh thức và không được công nhận" (con số này có hơi cao hơn thực tế một chút) và số Nhân Chứng Giê-hô-va thực thụ hoạt động lên đến "vài trăm người".

Le Thanh Y

http://www.geocities.com/le_thanh_y/nhanchunggiehova.htm

1. Sơ khởi: Charles Russel 1852-1916 2. Phát triển: Joseph Rutherford, Nathan Knorr 1916-
3. Những con số thú vị 4. Hai loại chứng nhân: 144.000 và số c̣n lại
5. Nhân chứng tại Việt nam  
  Banluan.com: Nhân chứng GHV trang chủ