Bàn luận: Phật Giáo



Chúa Giê-su đối thoại với Đức Phật

 |  Mười câu hỏi về Phật giáo  | Tội Lỗi và Sinh Lăo Bệnh Tử | Sự tu tập của Phật tử Việt nam  |  T́m hiểu Niết Bàn  |  Einstein và Phật Giáo

Các bài viết trên www.hợptinhhoply.net


Phê b́nh sách The Lotus and the Cross. Jesus Talks with Buddha .bởi Michael Kenneth Wilson,

(http://www.facetofaceintercultural.com.au/the-lotus-and-the-cross-ravi-zacharias/)

chuyển ngữ bởi Nguyễn Ngọc Lan,  www.banluan.com

 

Bông sen và thập tự giá.

Chúa Giê-su đối thoại với Đức Phật

 

 

Ravi Zacharias. Oregon: Multnomah Publishers Inc., 2001

 

Về tác giả:

Tác giả tên là Ravi Zacharias (trong bài viết này sẽ được gọi là Xa-cha-ri theo phiên âm việt ngữ)

Trang mạng của Xa-cha-ri là http://www.rzim.org/ Ông sinh ra ở Ấn độ năm 1946 và định cư ở Canada từ năm 20 tuổi. Ông trở nên một diễn giả biện giáo thông minh, nhiều lần được mời nói chuyện ở cấp bậc cao nhất trong chính phủ. Ông là tác giả của nhiều sách và có chương tŕnh hàng tuần trên đài phát thanh.

 

Lời giới thiệu
Tác giả Xa-cha-ri giải thích Bông Sen là biểu tượng của Phật Giáo và Thập-tự là biểu tượng của Cơ-đốc Giáo. Ông khẳng định Chúa Giê-su và Đức Phật không thể cùng đúng (8) v́ hai hệ thống tôn giáo hoàn toàn đối lập nhau.

 

Lời mở đầu
Tác giả Xa-cha-ri nhớ lại chuyến du thuyền lần cuối dọc theo sông Các Vua. Tâm trí ông không thể rũ bỏ một bài viết trong tờ báo hôm trước. Bài viết nói về một thiếu nữ, tên là Pri-a (Pry-a theo, tiếng Thái có nghĩa là “người yêu, yêu dấu”). Năm 17 tuổi cô rời quê lên thành phố sinh sống theo lời gợi ư của một người bạn. Người “được gọi là bạn” này đẩy cô vào con đường mại dâm dưới tay một nhóm côn đồ. Cuối cùng cô phát hiện ḿnh nhiễm HIV dương tính. Tuy vậy cô vẫn tiếp tục làm mại dâm, tuyệt vọng kiếm tiền để chữa chạy bệnh t́nh. Cô kư giấy khai tử cho khách mua dâm, nhưng sự sống của cô cũng đă mất hết tất cả giá trị. Dần dần bệnh tật khiến cơ thể cô héo ṃn. Sau vài lần quyên sinh không thành công, lần cuối cô tự uống thuốc độc, đốt nhà và thiêu sống ḿnh đến chết.

Tác giả trầm tư không biết Chúa Giê-su sẽ nói ǵ với Pri-a, nếu như cô có cơ hội đến với Chúa trước đó. Ông cũng tự hỏi không biết Đức Phật sẽ nói ǵ với cô, và hơn nữa Chúa Giê-su và Đức Phật có thể nói ǵ với nhau.

Bông sen và Thập tự giá. Chúa Giê-su nói chuyện với Đức Phật


Chúa Giê-su mời Pri-a, cô gái bệnh tật và cận chết đến ngồi cạnh Ngài. Chúa b́nh luận rằng những kẻ mà cô từng tin cậy, đă sử dụng, hành hạ cho đến khi cô chẳng c̣n là ǵ khác ngoài một thân xác tàn tạ: “Thật đặc trưng làm sao việc những con kền kền biến mất khi  không c̣n da thịt trên xác chết” (16). Tiếp nữa, cha mẹ của Pri-a mang một gánh nặng lương tâm v́ đă khích lệ con gái ḿnh bước vào cuộc đời mại dâm

Chúa Giê-su giải thích rằng Pri-a đă bị ác thần lôi kéo, con đường sống của cô dẫn đến sự chết tâm linh, và những ǵ cô đang cần là sự sống đời đời qua Lời Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su gợi ư ban tặng cho cô sự tha thứ và sự sống sau cái chết.

Tại thời điểm này Đức Phật cảm thấy ḿnh nên tham gia câu chuyện. Đức Phật nói về sự thương cảm đối với Pri-a và phản đối lời Chúa Giê-su về “Sự chết tâm linh”, về “Lời Đức Chúa Trời” và “Sự Tha thứ”. Đức Phật coi những điều này là nạng chống cho những kẻ ốm yếu tâm linh, là ảo ảnh, vô thực. Đức Phật gạt bỏ niềm tin vào những điều này cũng như niềm tin vào sự thực hữu của ác thần, coi đó là sự lừa dối mà những người non nớt và thiếu am hiểu bám víu.

Đức Phật đồng ư rằng sự giàu sang không bao giờ thỏa măn, mặc dù nguyên nhân có khác với so với quan điểm của Chúa Giê-su. Đức Phật nói rằng tất cả đau khổ mà Pri-a phải trải qua là nhân quả của những ǵ cô tự gieo. Cô có gánh nợ từ khi cô mới sinh và không thể thoát nợ khi cô nhắm mắt. Tất cả mọi lời nói, hành động, việc làm đều phải đền trả.

Khi Chúa Giê-su lên án Phật Tổ[1] về việc đặt trên vai nhân loại một gánh nặng không thể khiêng nổi. Đức Phật tuyên bố ḿnh đă t́m được phương cách mang gánh nặng đó.  Đức Phật giải thích về “nghiệp”,[2] rằng có một luật đạo đức của căn nguyên và hậu quả trong ư thức con người. Đức Chúa Trời hay ác thần  (Sa-tan) có tồn tại hay không là điều không quan trọng cho thực tại. Đức Phật công nhận Pri-a không làm ǵ để gây nợ khi mới sinh, nhưng cả cuộc đời cô, cô được tự do lựa chọn cắt giảm hay trả luôn gánh nợ từ khi mới sinh.

Đức Phật gợi ư niềm hy vọng cho Pri-a, dạy rằng tổng số công việc tốt lành và độc ác sẽ xuất hiện trong đời sau. Rằng cô đang đặt cọc trong một ngân khoản để có thể rút ra trong cuộc sống tái sinh

Muốn biết rơ hơn, Pri-a hỏi Đức Phật rằng cô có cơ hội  để trả nợ khi đầu thai kiếp khác không. Đức Phật nói: Theo một cách chuyên môn, cô không đầu thai kiếp khác, nhưng tái sinh[3] . Đúng ra:

“Một Sự Sống khác sẽ xuất hiện sau khi ngươi ra đi... một Thức sẽ được tái sinh, với ngân khoản đức hạnh mà người đă gom góp trong gánh nợ [4] (23).

Pri-a cảm thấy khó hiểu. Cô hỏi tiếp:

“Nghiệp của ai đây đang được giải ra, khi mỗi cuộc sống liên hệ tới biết bao nhiêu nghiệp? Tôi suy nghĩ: phải chăng cha mẹ tôi cũng đang đang trả nợ cho đời trước qua cuộc sống của tôi? Phải chăng những khách hàng cũng đang trả nợ khi tôi bán thân bệnh tật này cho họ. C̣n đứa con mới sinh mà tôi phải bỏ đi. Có phải nó có nghiệp trước khi có thể biết những ǵ tốt, xấu? Tôi nghĩ việc t́m thấy câu trả lời trong ṿng nghiệp luẩn quẩn giống như cho tay vô thùng keo dán rồi cố gắng lau sạch. Tất cả cái ǵ tôi đụng đến đến trở nên nhơm nhớp, và tôi không có chỗ nào để rửa tay.” (23-24).

Đức Phật cho Pri-a biết rằng nguồn gốc của cô phụ thuộc vào nhiều căn nguyên không thể đếm được, theo giáo lư “nguyên khởi” [5]. Nhưng bởi Pri-a không thể thay đổi quá khứ, cô nên quên đi. Cô cũng không nên suy nghĩ về tương lai, v́ tương lai chỉ là sự suy đoán. Pri-a nên ứng xử trong hiện tại, giải phóng ḿnh ra khỏi ảo tưởng về Đức Chúa Trời, Sự Tha Thứ và Sự sống Cá Nhân Đời Đời. Pri-a nên ưu tiên giữ cán cân nghiêng về việc lành hơn về việc dữ. Và cô nên phát triển một tâm hồn trong sạch, để bù lại những ư nghĩa và hành động không lành mạnh.  

Trong tranh luận với Chúa Giê-su, Đức Phật tự giới thiệu ḿnh như một người đă đạt đến đỉnh cao tuyệt đối của sự khôn ngoan và kiến thức. Đức Phật đă phát hiện và vật lộn với nan đề căn bản của sự đau khổ, nhiều thế kỷ trước khi Chúa Giê-su ra đời. Chúa Giê-su chỉ cho Đức Phật thấy ông Gióp có trước Đức Phật, và trước ông Gióp là ông Áp-ra-ham, cả hai cũng đối diện nan đề như vậy. Chúa Giê-su thêm vô: Trước ông Áp-ra-ham đă có Chúa. [6]

 Truyền thuyết kể lại Đức Phật quyết định từ bỏ cuộc sống b́nh dị, coi vợ, con, cha mẹ như những ràng buộc cần phải bỏ lại để đi t́m sự b́nh an thật. Chúng ta được biết cuộc sống ban đầu của Phật Tổ mang tính cực kỳ khổ hạnh và sự trải nghiệm Giác Ngộ của Ngài liên hệ tới việc nhớ lại muôn vàn các kiếp sống trước đó , cho đến khi trở nên tự do khỏi ham muốn.(33).

Chúa Giê-su chỉ ra rằng Phật tử có rất nhiều “luật lệ và hàng chục luật lệ, như giây tḥng lọng treo lơ lửng trên đầu một cách châm chọc, sẵn sàng thắt cổ ở bất cứ cử động sai trật nào” (34): Có 227 luật cho sư ông và 311 luật cho sư bà. Chúa Giê-su cũng chỉ ra một điều rằng đối với Đức Phật, sự quên ḿnh vẫn chưa đủ, và “đạo đức -  như một mề đay thành tích - sinh hạ một t́nh trạng tâm lư hết sức nguy hiểm: Ảo tưởng của sự tự trị tuyệt đối”[7] (38).

Tứ Diệu Đế[8] được nhắc tới. Đức Phật gợi ư hai thuật ngữ tóm tắt nan đề của loài người: Sự Ngu Dốt và Ḷng Ham Muốn. Đức Phật nói rằng nếu cô Pri-a tự “từ chối bản thân”[9], và những nạn nhân của cô cũng tự “từ chối bản thân”, cuộc sống khủng khiếp mà cô đang trải nghiệm sẽ không bao giờ xảy ra. 

Khi kinh nghiệm Sự Giác Ngộ, Đức Phật nghĩ rằng sự khám phá của Ngài thật độc đáo, sâu nhiệm đến nỗi Ngài tính đến việc im lặng cả cuộc đời về những điều này. Tuy nhiên các học tṛ thuyết phục Ngài một cách ngược lại. Chúa Giê-su coi câu chuyện này có vẻ phi lư. V́ nếu Đức Phật đă đạt đến sự hiểu biết và kiến thức hoàn hảo, Ngài cần ǵ những lời khuyên và sửa sai của các học tṛ, là những người chưa giác ngộ? Thêm vào đó, Ngài cần được gợi ư không nên cho phép những người trẻ trở nên tu sỹ mà không có sự đồng ư của cha mẹ. Ngài cũng được thuyết phục để cho phép thành lập ḍng nữ tu sỹ.

Đức Phật phản công, nói rằng Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời cũng thay đổi ư kiến khi Mô-sê và Áp-ra-ham cầu nguyện. Chúa Giê-su giải thích rằng Đức Chúa Trời không đáp lại v́ có ai mở trí cho Ngài (47); rằng Đức Phật không giống như Đức Chúa Trời v́ Đức Phật đă thay đổi tâm trí, khi có ǵ đó thay đổi  tâm hồn.  

Đức Phật phân biệt sự khác nhau giữa cầu nguyện và thiền, giữa sự hướng tới một Đấng mạnh hơn ḿnh và sự hướng vào nội tâm.

Đức Phật nhất định một điều: “Cá Nhân Cái Tôi[10] là vô thực, không tồn tại bất cứ ở đâu, dù trong cơi thuộc thể hay trong cơi thuộc linh. Hăy nh́n cái thuyền đây. Phải chăng nó là gỗ, phải chăng nó là động cơ, phải chăng nó là keo dán, là sơn? Không, nó chẳng là cái ǵ cả. Cũng vậy, Cái Tôi không tồn tại trong hoặc ngoài bất cứ nguyên tố nào dựng nên chúng ta. Chúng ta chẳng là ǵ ngoài thể xác, khi thể xác chết đi, cá nhân cũng sẽ chết. Không có ǵ tồn tại vượt qua Thức.  Tất cả nan đề bắt đầu khi con người nghĩ rằng có một cá nhân, một Cái Tôi hiệp một”

Chỉ khi chúng ta hiểu rằng Cái Tôi không tồn tại, và chúng ta đang sống trong một ảo giác của Cái Tôi, sự đau khổ sẽ chấm dứt.

Tất cả mọi ham muốn của Pri-a này đều hướng vào Cái Tôi của cô. Hăy nh́n vào thân h́nh tiều tụy, thảm thương của Pri-a. Nếu như Pri-a đă hiểu ḿnh không có Cái Tôi, Pri-a đă ngừng thỏa măn Cái Tôi và đă không bước vô t́nh trạng tuyệt vọng này. Một khi ư thức Cái Tôi không tồn tại, chúng ta t́m được điểm giữa của khổ hạnh và hoan lạc. Trong sự quân b́nh đó, sự sống không c̣n bắt giữ chúng ta trong những ràng buộc của ḿnh. (54-55).

Chúa Giê-su đáp lại rằng lời Đức Phật mâu thuẫn, v́ cá nhân Cái Tôi được cho là tồn tại qua các đại từ của câu nói: “Một khi Chúng Ta ư thức được ... Chúng Ta t́m được điểm giữa... Nếu như Cô đă hiểu... Cô ấy đă dừng... Cuộc sống không c̣n bắt giữ Chúng Ta...” Chúa Giê-su nói rằng Đức Phật không thể rũ bỏ Cá Nhân, bất kể Ngài cố gắng hết ḿnh đến đâu. “Quư Vị không thể thay đổi thực tại bằng thay đổi ngôn ngữ” (55). Trong ví dụ trên, Đức Phật đáng lẽ phải bắt đầu bằng: con người  “khác với” ... thay v́ “giống như” con thuyền. Pri-a không phải là con thuyền, là một vật dụng, nhưng là một cá nhân được tạo dựng một cách độc đáo trong h́nh ảnh Đức Chúa Trời.

Đức Phật từ chối việc nhân loại cần Đức Chúa Trời để có nhân phẩm. Chúa Giê-su đáp lại: “Thật ngạc nhiên khi Đức Phật chưa phát hiện chân lư sau đây: Đức hạnh tự ḿnh không thể đem lại tự do hoặc nhân phẩm.” (58). Chúa gợi ư rằng khi t́m kiếm câu trả lời cho sự đau khổ, Đức Phật chưa giải quyết nan đề, nhưng chỉ cố gắng rũ bỏ các mối liên hệ mà thôi.

Chúa Giê-su mời Đức Phật cầm tay Pri-a, Đức Phật trả lời Ngài không thể đụng đến cô. Chúa đáp lại: “đây là sự biểu lộ tuyệt vọng tối hậu của Pri-a”... Chúa nói tiếp: ”khi từ chối Cái Tôi thực hữu, sự lầm lạc của Quư Vị không phải là nan đề của sự đau khổ, nhưng là bản chất của hiện thân.” (60) [11]

Đức Phật bày tỏ thất vọng về những nghi lễ và sự thờ cúng thần tượng trong các chùa chiền. Chúa Giê-su đáp lại rằng khi Đức Phật lấy (khái niệm) Thần Thánh ra khỏi ư thức hệ con người, con người càng trở nên mê tín dị đoan, v́ căn bản đây là sự thiếu niềm tin vào Đức Chúa Trời. Không có sự hiện điện của Chân Thần, con người sẽ t́m mọi cách làm vừa ḷng thế giới thần lực vô h́nh và tục lệ phát ra v́ sự sợ hăi những điều họ không biết... 

Đức Phật phải chịu trách nhiệm về luật lệ chủ nghĩa máy móc – Chúa Giê-su minh họa bằng cách nhờ Pri-a mời một vị sư cùng ăn cơm trưa. Người này nói ông không thể, v́ đă quá trưa, nếu làm vậy sẽ vi phạm điều luật “độ ngọ”. Ông lái thuyền cũng mời vị sư dùng trái cây, người này từ chối v́ sợ bị ô uế bản thân.

Chúa Giê-su thách thức lời Đức Phật nói rằng Phật đă từng trải qua vô vàn sự sinh thành và đă đến sự sinh thành cuối cùng. Vậy th́: “Làm sao con số vô vàn lại có sự chung kết? [12]  Tiếp nữa Chúa Giê-su nhấn mạnh đức hạnh gắn liền với nhân tính một cách không thể tách rời:  “Không có cách nào nói về điều một người phải làm, mà không nói về giá trị người đó. Không có cách nào nói về giá trị một người, trừ khi giá trị một con người có thực. Không có cách nào khiến giá trị có thực, trừ khi con người được tạo dựng bởi một Đấng Có-Giá-Trị Tuyệt Đối. [13] (71).

Đức Phật giải thích Ngài không để lại cho các học tṛ một văn tự nào như một thẩm quyền không thay đổi. Chúa Giê-su hỏi: “v́ sao lại không?”  Đức Phật trả lời: “ v́ mọi sự đều tạm thời”(76).  Chúa Giê-su bắt bẻ: “Kể cả tuyên bố này? Cũng tạm thời sao?”

Chúa Giê-su tiếp tục chỉ ra, rằng Phật tử không có lời cuối cùng làm tiêu chuẩn. Chính v́ vậy họ không thể cáo buộc người khác ngăn cản chân lư.

“Sẽ không có chân lư bất biến nếu tất cả mọi sự đều tạm thời. Và ngay cả tuyên bố  mọi sự đều tạm thời cũng đúng một cách tạm thời. Điều ấy có nghĩa rằng sự tuyệt đối Qúy vị cho là đúng cũng chỉ đúngmột cách tương đối. Nếu chỉ đúng một cách tương đối th́ làm sao có thể tuyên bố đây là sự tuyệt đối?” [14](76).

Bởi giáo huấn của Đức Phật dựa trên tuyên bố “mọi sự chỉ là tạm thời”, Ngài vô t́nh chứng minh chân lư chủ yếu được khẳng định bằng lời và được kiểm nghiệm bằng lư trí. Nếu một điều không được nói ra và ngẫm nghĩ, th́ không thể có phương cách nào xác nhận điều đó đúng hay sai. [15]

Chúa Giê-su tiếp tục nói rằng Phật Tổ sẽ không bao giờ công chính thực sự, cho đến khi Ngài được cứu rỗi. Ngài không thể được cứu rỗi bằng cách ngồi thiền và nh́n sâu trong tâm hồn của ḿnh.

Ông lái thuyền cảm thấy khó chịu bởi ông tôn trọng Đức Phật và coi Đức Phật không thể sai. Chúa Giê-su chỉ ra Đức Phật từng tôn trọng các tu sỹ Bà-la-môn, nhưng vẫn tin rằng họ sai. Một người không thể hy sinh Chân Lư trên bàn thờ của sự Tôn Trọng: “Sự tôn trọng quyền lầm lẫn của một cá nhân không có nghĩa rằng sự lầm lẫn ấy được coi là đúng đắn [16](81).

Chúa Giê-su cho Pri-a biết rằng Chúa đă trả nợ tất cả những tội lỗi của cô trong quá khứ. Chúa Giê-su thách thức Phật Tổ hỏi mọi người xung quanh xem có ai hy vọng đạt được Cơi Niết Bàn trong đời này, hoặc biết được món nợ của ḿnh đă được trả hết không. Sứ điệp của Chúa Giê-su về sự trả thay và tha thứ đối lập với quan điểm của Đức Phật, cho rằng con người sinh ra với món nợ truyền kiếp, và lối sống mỗi cá nhân quyết định việc họ đă thêm vô hoặc bớt đi món nợ đó.

Chúa Giê-su hỏi Đức Phật có ǵ gợi ư cho Pri-a. Đức Phật nói về Tam Bảo, Tam Quy Y, (Phật, Pháp và Tăng Già). Chúa Giê-su chứng minh: Quy Y đầu tiên không tồn tại v́ Cá Nhân Đức Phật không tồn tại. Quy Y thứ hai dạy rằng: “không có Lời Đời Đời để bảo tồn, không có Sự Tuyệt Đối để dắt dẫn”. Và Quy Y thứ ba nói về “một cộng đồng mà tất cả tin rằng Cái Tôi không tồn tại, tiến đến điều không  ham muốn bất cứ điều ǵ, kể cả t́nh bạn từ người khác. [17](83).

Chúa Giê-su kết luận, Pri-a phải chọn lựa một trong hai điều:  xóa bỏ bản thân (theo Đức Phật) hoặc t́m lại bản thân (tức theo Chúa Giê-su).

Lời kết
Phật giáo được mô tả như:

Một triết lư giúp người ta tốt lành mà không cần đến Đức Chúa Trời, vực dậy một cá nhân bằng chính tiêu chuẩn đạo đức của cá nhân ấy. Một triết lư có sự lôi cuốn rơ ràng. Trong một cách khôn khéo, Phật giáo đặt vương miện trên một Cá Nhân, với quyền tự chủ tuyệt đối, trong khi tuyên bố Cái Tôi là chỉ là ảo ảnh. [18](91).

Xa-cha-ri c̣n quan sát thêm: “Phật giáo bảo vệ thuyết “Mọi Sự Chỉ Tạm Thời” bằng sức mạnh của luật lệ bất di bất dịch” [19](91).

Tác giả chỉ ra Phật giáo khích lệ trầm tư và suy nghĩ, trong khi điểm đến cuối cùng lại là sự vô tư và lăng quên.[20]  (Tuy nhiên điều quan sát này có điểm yếu, tùy thuộc vào từng trường phái Phật Giáo, cũng như quan điềm về thực tại Niết Bàn và mức độ Giác Ngộ. - Lời của người phê b́nh sách)

 

Xa-cha-ri để ư cách hành đạo trong Phật Giáo khích lệ sự tách biệt với thế gian.

“Nếu Quư Vị cắt đi mọi ràng buộc, Quư Vị sẽ ngừng lo lắng. Nếu Quư Vị không có t́nh yêu, trái tim Quư Vị không bao giờ tan vỡ. Nếu Quư Vị ngừng yêu, Quư Vị sẽ hết đau khổ, Nếu Quư Vị không ham muốn, Quư Vị chẳng bao giờ mất điều ǵ. Đây là giáo lư thu gọn trong một vài ḍng.” (92).



 


 

 


 

[1] Thái tử Tất-Đạt-Đa Gô-ta-ma

[2] “Nhân Quả” – karma nghĩa đen là hành động.

[3] (sự khác biệt giữa Phật Giáo và Ấn Độ giáo) bởi v́ cô sẽ không quay trở lại như chính bản thân

[4] (Another life will make its entrance after you’re gone… another consciousness with the moral deposit reaped from your indebtedness will be born”

[5] the doctrine of dependent origination

[6] [Xa-cha-ri miêu tả Đức Phật như một người sinh ra trong Ấn độ giáo, nhưng từ chối một số giáo lư đạo này. Ở đây Xa-cha-ri theo sự suy nghĩ phổ thông rằng Phật Giáo bắt đầu từ những phản ứng nghịch với Ấn độ giáo – điều này đúng hay sai tùy thuộc vào định nghĩa thế nào là Ấn Độ giáo. Đối với nhiều người, chế độ đẳng cấp là phần không thể thiếu được trong định nghĩa về Ấn độ giáo và hệ thống đẳng cấp phát triển. Nó thay thế quan niệm bốn tầng lớp xă hội của dân tộc Ấn độ. (thực ra tất cả các xă hội dù cổ xưa hay hiện đại đều bị phân chia tầng lớp.Có thể nói chính xác hơn  là cả Ấn độ giáo và Phật giáo đều phát triển từ triết học Ấn độ sơ khởi, ví dụ trường phái Bà-la-môn (Brahmanism) và Vedism. Có thể tranh luận rằng Phật giáo có sớm hơn Ấn độ giáo.] – đây lời của người phê b́nh sách.

 

[7] “morality as a badge of attainment breeds the deadliest state of mind – a delusion of absolute autonomy”

[8] Tứ Diệu Đế gồm có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, là tóm lược nguồn cội và cách giải thoát khỏi sự đau khổ.

[9] thực hành “vô ngă”

[10] “self”=“ngă”hay “bản ngă”. Người dịch xin dùng khái niệm phổ thông: “Cái Tôi”. “Cái tôi không thực” =”vô ngă”

[11] “What you’ve lost in denying the self as real is not the problem of pain but the essence of being”

[12] Buddha’s claim to have recalled an infinite number of births since he also claims to have had a final birth. Yet: “How can an infinite number have finality?”

[13] There is no way to talk of what one ought to do without showing the value of the person… There’s no way to confer value on a person unless that value is intrinsic. There’s no way value can be intrinsic unless that person is created by one of ultimate worth”

[14]  There is no permanent truth if everything is impermanent. And even the statement that everything is impermanent is only impermanently true. Which means the absolute you posit becomes only relatively true. If it’s only relatively true, it can no longer be stated as an absolute

[15] truth is principally asserted by words and can be tested by reason. If nothing is ever said or thought in assertions then there is no way of assessing what is true or not.

[16] one cannot sacrifice truth at the altar of respect: “Respect for the right of another to be wrong does not mean that the wrong is right”

[17] the first gem is nonexistence since the Đức Phật does not personally exist; the second gem concerns teaching that “has no eternal Word to preserve, no absolute to be guided by” (83); and the third gem concerns a community “who believe no self exists and move toward not desiring anything, including the friendship of others”

[18] a philosophy of how one can be good without God, pulling oneself up by one’s own moral bootstraps. Its allurement is obvious. In a very subtle way it is the ultimate crowning of the individual with total autonomy, while at the same time it declares that the self is an illusion

[19] “It argues for impermanence with the force of a permanent injunction”

[20] while it encourages thought and contemplation its final destination is thoughtlessness and oblivion.

 

 |  Banluan.com Tôn giáo / Trang chủ